Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng

Tôm thẻ chân trắng là loài có giá trị kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, sức đề kháng tốt, năng suất lớn, rất phù hợp với các loại hình nuôi thâm canh và bán thâm canh tại Việt Nam. Tuy nhiên, muốn có được hiệu quả cao, người nuôi cần phải áp dụng đúng các kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng.

Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng
 

Nuôi tôm thẻ chân trắng mang lại hiệu quả cao hơn khi cần nhanh chóng thay đổi hoặc cải thiện môi trường nuôi, tiết kiệm chi phí sản xuất (hóa chất, vôi, vi sinh, thức ăn, nhân công) nhờ đó có cơ hội giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận thu về. Ao còn phù hợp với qui mô và giá cả của các trang thiết bị hỗ trợ hiện có trên thị trường, đặc biệt là hệ thống cung cấp oxy hòa tan (quạt nước, sục khí đáy hoặc sục lủi) hoặc xử lý nước bằng phương pháp vật lý (lọc, tia cực tím, ozone, siêu âm hay công nghệ nano).

Chúng tôi xin chia sẻ các bước kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng như sau:

I. Lựa chọn địa điểm nuôi.

Cơ sở nuôi phải nằm trong vùng quy hoạch hoặc được cơ quan quản lý cho phép.

Gần đường giao thông, điện, thông tin liên lạc…

Nên nằm ở vùng trung triều trở lên, có chất đất phù hợp (pH>5, tốt nhất là đất sét pha thịt, thịt pha cát, ít mùn bã hữu cơ…).

Nguồn nước đầy đủ, chất lượng nước phù hợp cho nuôi tôm. Tránh tác động của các nguồn nước gây ô nhiễm từ vùng canh tác nông nghiệp, chất thải công nghiệp và sinh hoạt.

II. Thiết kế xây dựng ao nuôi.

Có hệ thống cấp, thoát nước riêng biệt, ao lắng, ao chứa, ao nuôi, không rò rỉ, thẩm lậu, sạt lở (hình 1). 

Diện tích ao nuôi được thiết kế từ 0,2 - 0,5 ha. Độ sâu mực nước ao 1,5 - 1,8 m, bờ cao hơn mức nước cao nhất 0,5 m. Hình dạng ao thường có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông, mục đích để máy quạt nước dễ thu gom chất thải vào giữa ao. Đáy ao bằng phẳng, có độ dốc khoảng 150C nghiêng về phía cống thoát nước.

III. Chuẩn bị ao nuôi.

 1. Cải tạo ao nuôi.

Đối với ao đã sử dụng cần vét hết bùn sau mỗi vụ nuôi đưa vào nơi quy định hoặc giữ nước trong ao từ 30 - 40 cm, sử dụng chế phẩm sinh học dạng vi sinh để phân huỷ hết chất hữu cơ trong 3 - 4 ngày.

Đối với ao mới xây dựng xong cho nước vào ngâm 2 - 3 ngày rồi xả hết nước, ngâm và tháo như vậy 2 - 3 lần.

Khi bón vôi rải đều trên mặt ao, đáy ao cần có đủ độ ẩm, bón nhiều cần trộn với bùn đáy ao tạo thành lớp bùn ngăn cách và trung hoà khi axit tăng, tác dụng của vôi sẽ có hiệu quả cao nhất.

Phơi khô đáy ao 5-7 ngày. Đối với những ao không phơi được: bơm cạn nước, dùng máy cào chất thải về cuối góc ao, bơm chất thải vào ao chứa thải, sau đó tiến hành bón vôi với liều lượng như trên.

 2. Xử lý nước và lấy nước vào ao nuôi.

Lấy nước vào ao lắng qua túi lọc bằng vải dày, sau đó chạy quạt nước liên tục trong 2 - 3 ngày để kích thích trứng tôm, ốc, côn trùng, cá tạp nở thành ấu trùng.

Diệt tạp, diệt khuẩn nước cấp trong ao lắng vào buổi sáng (8h) hoặc buổi chiều (16h) bằng Clo nồng độ 30 ppm (30 kg/1.000 m3 nước), hoặc những chất diệt tạp có tên trong danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam (không dùng thuốc bảo vệ thực vật và các chất cấm).

Quạt nước liên tục trong 10 ngày để phân hủy dư lượng Chlorine. Kiểm tra dư lượng Chlorine trong nước bằng thuốc thử.

Cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi (qua nhiều lớp túi lọc bằng vải dày) đến khi nước trong ao nuôi đạt từ 1,3 - 1,5 m. Để lắng 2 ngày.

 3. Gây màu nước.

Gây màu nước giúp phát triển vi sinh vật phù du, ổn định môi trường nước, tạo môi trường thuận lợi hạn chế tôm bị sốc, tăng tỉ lệ sống.

Hai ngày sau khi cấp nước vào ao nuôi, gây màu nước bằng cách:

Cách 1: Gây màu nước bằng cám ủ (Thành phần: cám gạo, bột đậu nành, bột cá phối trộn theo tỷ lệ 2:2:1. Nấu chín, ủ trong 2 - 3 ngày).

- Bước 1: Lúc 7-8h sáng: bón vôi đen Dolomite CaMg(CO3)2 hoặc vôi nông nghiệp CaCO3 liều lượng 100 - 150 kg/1.000 m3.

- Bước 2: Lúc 10-12h trưa: Bón cám ủ liều lượng 3 - 4 kg/1.000 m3.

Lặp lại 2 bước trên liên tục trong 3 - 5 ngày đến khi độ trong của nước đạt 30 - 40 cm.

Cách 2: Gây màu nước bằng mật đường + cám gạo + bột đậu nành (tỷ lệ 3:1:3) ủ trong 12 giờ.

- Lúc 9-10 giờ sáng: Bón mật đường + cám gạo + bột đậu nành đã ủ với liều lượng 2 - 3 kg/1.000 m3 nước ao, tạt liên tục 3 ngày.

- Khi màu nước trong ao chuyển sang màu của tảo khuê (vàng hay nâu nhạt) hay màu xanh vỏ đậu thì tiến hành thả giống.

Có thể gây màu nước bằng chế phẩm vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất có uy tín để phân hủy mùn bã hữu cơ lơ lửng, xác tảo chết và tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt ngay từ đầu.

IV. Lựa chọn con giống thả nuôi.

 1. Chọn và thả giống:

- Chọn mua tôm giống từ các cơ sở có uy tín, có phiếu xét nghiệm âm tính về các mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng, Taura, IMNV, hoại tử gan tụy...

- Cỡ giống: Tôm thẻ chân trắng P12 trở lên.

Kiểm tra trực quan: Chiều dài ≥ 11 mm (từ mũi chùy đến cuối đuôi), tôm có kích cỡ đồng đều, độ lệch không quá 15%. Hình thái cấu tạo ngoài hoàn chỉnh, chùy, râu thẳng, đuôi xòe. Màu sắc: xám sáng hoặc đen tro, vỏ bóng mượt, không nên sử dụng tôm màu sắc không đồng đều hoặc trắng bợt. Phản ứng nhanh nhẹn khi có tác động đột ngột. Bắt mồi đều đặn, ruột đầy.

 2. Mật độ giống thả:

- Mật độ: thông thường từ 50 - 80 con/m2. Có thể thả mật độ cao: 120 – 150 con/m2.

- Cách thả:

+ Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát.

+ Trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8 - 12 giờ để đảm bảo lượng oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 4 mg/l.

+ Cân bằng nhiệt độ nước và nước ao nuôi bằng cách thả nổi bao giống trên mặt hồ cho tới khi nhiệt độ nước giữa bao giống và ngoài ao bằng nhau. Sau đó, cho nước từ từ vào đầy bao, cầm phía đáy bao từ từ dốc ngược để tôm giống theo nước ra ao nuôi.  

V. Quản lý ao nuôi mỗi ngày.

Kiểm tra thường xuyên nước trong ao nuôi tôm: Nếu thấy mực nước bị giảm so với mực nước ban đầu, cần tiến hành bơm thêm nước khoảng từ 10-30%/ngày, giữ độ trong khoảng từ 30 - 45 cm, tôm thẻ chân trắng có thể chịu được độ mặn từ 2-40 phần ngàn, độ mặn tốt nhất là 10-25 phần ngàn.

Cho tôm ăn:Cho ăn đúng, đủ lượng, không cho ăn thừa, kích thước thức ăn của tôm phù hợp từng giai đoạn nuôi.

Tháng đầu chỉ rải quanh bờ ao, cho ăn từ 2-3 lần/ngày. Ngày đầu tiên dùng thức ăn với lượng 2 kg/100.000 giống. Trong 20 ngày ban đầu, cứ 1 ngày tăng 0,2 kg/100.000 giống. Bắt đầu từ ngày thứ 21, cứ 1 ngày tăng thêm 0,5 kg/100.000 giống. Các tháng tiếp theo trở đi, lượng thức ăn khoảng từ 5,8% khối lượng thân giảm dần đến 2,1% khi cỡ tôm thẻ > 60 con/kg.

Cho tôm ăn 4 lần/ngày, rải đều khắp ao. Cần tùy chỉnh thức ăn cho hợp lý là cách nuôi tôm thẻ hiệu quả.

VI. Quản lý sức khoẻ của tôm.

Cần thực hiện tốt tất cả công đoạn trong quá trình nuôi tôm.

Kiểm tra hàng ngày xung quanh bờ ao hoạt động (bơi lội, bắt mồi...), ngoại hình và các dấu hiệu bệnh lý để từ đó xác định nguyên nhân. Nếu nguyên nhân do môi trường, tiến hành xử lý, điều chỉnh thức ăn. Nếu nguyên nhân do tác nhân hữu sinh, áp dụng chữa trị khi được cán bộ chuyên môn chẩn đoán.

Kiểm soát sự lây nhiễm như khử trùng các thiết bị, dụng cụ, xử lý tôm chết, tôm bị bệnh, xua đuổi dịch hại...

VII. Thu hoạch và bảo quản sản phẩm.

Sau khi tôm đạt kích cỡ 60-80 con/kg tiến hành. thu hoạch, tốt nhất sau khi tôm lột xác 5-7 ngày để tránh tỷ lệ hao hụt.

 


Bài viết liên quan

Không có bài viết liên quan

Bình luận

Lưu ý: không hỗ trợ mã HTML !